CÁC GIAI THOẠI VỀ
CÁC NHÂN VẬT NAM Kỳ LỤC TỈNH
Phần 3: NGUYỄN CHÁNH SẮT (1869 - 1947)
nhà văn tiền phong Nam
Kỳ
Hứa
Hoành
Nguyễn Chánh Sắt là một người tự
học, một nhà văn tiền phong, một dịch
giả truyện Tàu nổi tiếng ở miền Nam vào
đầu thế kỷ 20. Các nhà làm văn học sử
từ trước đến nay, thường bỏ quên
tên tuổi và sự nghiệp của cụ, hoặc
chỉ nói qua được một hai ḍng về sự
đóng góp vào cái gia sản văn hoá đồ sộ
của miền Nam. Riêng tôi, để viết lại
tiểu sử của các bậc tiền bối, sống
chỉ cách chúng ta trên dưới 1 thế kỷ, phải
bỏ ra nhiều năm để sưu tầm tài
liệu xuất xứ từ đủ mọi nguồn
gốc khác nhau. Đối với Nguyễn Chánh Sắt
cũng rất khó, v́ trong hoàn cảnh chật hẹp hôm nay
không được đến nơi chôn nhau cắt rún
của cụ để hỏi thăm, sưu tầm gia phả,
tài liệu, mà chỉ lượm lặt một cách rời
rạc, nên chỉ có thể cung cấp cho độc
giả một cái nh́n tổng quát về một con
người trong một giai đoạn lịch sử mà
thôi.
Nguyễn Chánh Sắt tự Bá Nghiêm, biệt hiệu Tân
Châu Du Nhiên Tử, sinh quán tại làng Long Phú, Tân Châu, tỉnh
Châu Đốc, sau nầy đổi là huyện Phú Tân (Châu
Phú- Tân Châu) thuộc tỉnh An Giang. Nguyễn Chánh Sắt là
người tự học để thành công. Cuộc
đời ông là một tấm gương sáng cho kẻ
hiếu học. Cha mẹ ông là những người nông dân
nghèo, không đủ phương tiện cho cậu bé
Sắt tới trường học mặc dầu cậu
Sắt đă 8 tuổi. Thấy vậy, một gia đ́nh
phú hộ trong làng hiếm con tên là Nguyễn Văn Bửu
ngỏ ư với cha mẹ cậu muốn xin Nguyễn Chánh
Sắt về làm con nuôi để cho ăn học. Buổi
đầu, cậu Sắt được học chữ
Hán với một thầy đồ trong làng, và sau đó
được theo học trường Quận tại
Cần Thơ. Thời gian nầy, Nguyễn Chánh Sắt
được học thêm chữ Pháp. Sau bậc sơ
học, Nguyễn Chánh Sắt được gia đ́nh cha
mẹ nuôi gởi xuống Châu Đốc theo học
trường tiểu học Pháp Việt.
Năm 17 tuổi, Nguyễn Chánh Sắt tốt nghiệp
bằng Tiểu học rồi được cha mẹ
nuôi cưới vợ cho ra riêng để tạo lập
sự nghiệp làm ăn. người vợ ông tên Văn
Thị Yến, con một Hoa Kiều, là một cô gái
đảm đang, có sạp buôn bán tạp hoá tại
chợ Châu Đốc, nhờ đó cuộc đời
của cậu thư sinh đỡ vất vả buổi
đầu. Tuy nhiên, Nguyễn Chánh Sắt là một
người có chí, không muốn ăn không ngồi rồi,
nên lúc ở nhà rảnh rỗi, Nguyễn Chánh Sắt cố
gắng tự học thêm chữ Pháp và chữ Hán.
Đầu thế kỷ 20, Tân Châu là một trung tâm dệt
lụa nổi tiếng khắp miền Nam. Một
người Pháp tên là De Colbert đến đây lập
xưởng dệt, khuếch trương công việc làm
ăn. Nghe tiếng đồn Nguyễn Chánh Sắt là
một thanh niên hiếu học, thông minh, nên De Colbert
đến t́m Sắt và mời cậu cộng tác cho ḿnh,
giữ sổ sách xưởng dệt và làm thông ngôn trong các
cuộc giao dịch với người bản xứ.
Thấy Sắt là một thanh niên hiền lành, đạo
đức, thông minh, nên De Colbert ngỏ ư muốn giúp
đỡ cậu. Ít lâu sau, De Colbert thôi việc dệt
lụa để đi làm công chức, và được
đổi đi Côn Nôn (Côn Đảo), ngỏ ư muốn
đem Nguyễn Chánh Sắt theo. Đó cũng là thử
thách để Nguyễn Chánh Sắt có dịp giao thiệp
với đời, trau dồi thêm chữ Pháp nhờ làm
thông ngôn. Ba năm sau De Colbert mất, Nguyễn Chánh Sắt
về Sài G̣n.
Ban đầu ông xin vào làm trong Sở Canh Nông. Nghề
công chức thời Pháp thuộc rất nhàn, Nguyễn Chánh
Sắt dùng th́ giờ nhàn rỗi viết báo, viết sách
dạy chữ Hán cho học tṛ và thử dịch vài
quyển truyện Tàu. Thấy công việc có kết
quả, dần dần Nguyễn Chánh Sắt trở nên ham
thích nhưng chưa đam mê. Ông Nguyễn Chánh Sắt
bắt đầu viết từ năm 1918, và đến
năm 1919, quyển tiểu thuyết kim thời
đầu tiên được in trong "Sách Vệ Sinh
Chỉ Nam" của nhà thuốc Nhị Thiên
Đường ở Chợ Lớn. Tiểu thuyết
ấy lấy tên là "Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên"
nhưng người đương thời vẫn quen
gọi là "Chăng Cà Mum". Cũng trong thời
gian nầy, Nguyễn Chánh sắt được một
người bạn giới thiệu vào dạy Hán Văn
trong trường Taberd. Sau đó, Nguyễn Chánh Sắt
được ông Canavaggio mướn trông coi sở
muối ở Bạc Liêu. Canavaggio là một người
Pháp ham thích hoạt động, có kiến thức, ngoài
tư cách hội viên Hội Đồng Thành Phố Sài G̣n,
c̣n kinh doanh nhiều nghề. Canavaggio khởi công làm
ruộng ở Sốc Trăng, Bạc Liêu, chăn nuôi trâu
ḅ, làm đại lư mua bán muối, nuôi tằm dệt tơ lụa
ở Tân Châu. Chính Canavaggio có vựa bán muối trong chợ
Cầu Muối, đồng thời cũng là người
làm chủ tờ báo "Nông Cổ Mín Đàm"
Năm 1905, Nguyễn Chánh Sắt bắt đầu
viết cho tờ "Nông Cổ Mín Đàm" rồi
đến năm 1906 ông làm chủ bút "Lục
Tỉnh Tân Văn". Cũng bắt đầu từ
đó, Nguyễn Chánh Sắt tham gia phong trào Duy Tân ở
miền Nam do Trần Chánh Chiếu phát động, lấy
tên "cuộc Minh Tân". Tuy không phải là một
nhà cách mạng của phong trào, nhưng trong lănh vực
văn hoá, tư tưởng, Nguyễn Chánh Sắt cùng
với Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thành Út, Đặng
Thúc Liêng... đă cổ vơ cho công "cuộc minh tân", kêu
gọi các điền chủ, công chức thức tỉnh,
đem tiền của để hùn hạp buôn bán, cạnh
tranh quyền lợi với Hoa Kiều và Ấn Độ.
Trên mặt báo, Nguyễn Chánh Sắt viết những
lời cổ động dân chúng theo cuộc "minh
tân", đang liên tục nhiều tháng trên "Lục
Tỉnh Tân Văn". Thời gian nầy công ty "Nam
Tân Minh Công Nghệ" thành lập năm 1908, gồm
nhiều cổ phần, đa số là điền chủ
và công chức, trụ sở đặt tai Mỹ Tho là
một đầu mối giao thông về Miền Tây.
Hồi đó đường xe lửa Sài G̣n - Mỹ Tho
đưa các điền chủ, thầy cai tổng, ông
Hội đồng ... ghé chợ Mỹ Tho nghỉ ngơi
trong các khách sạn. Đêm đêm họ hưởng thú vui
cao lâu, nghe ca hát ra điệu bộ, rồi sáng hôm sau
mới xuống tàu lục tỉnh về quê. Chuyến trở
lên cũng vậy. Họ ghé Mỹ Tho nghỉ ngơi cho
khoẻ để sáng hôm sau đáp xe lửa đi Sài G̣n.
Trong công ty nầy có 2 khách sạn:
- Minh Tân khách sạn ở Mỹ Tho
- Nam Trung khách sạn ở Sài
G̣n.
Về chính trị, tờ "Lục Tỉnh Tân
Văn" cũng công khai chỉ trích chế độ
thuộc địa. Về kinh tế, "Lục Tỉnh
Tân Văn" chủ trương giành quyền lợi cho
người bản xứ, kêu gọi các nhà thương
nghiệp Việt Nam thành lập các xí nghiệp, cổ
động dân chúng tiêu thụ hàng nội hoá, giảm
bớt mua hàng nước ngoài và chống lại sự chèn
ép kinh tế của các nhà tư bản ngoại quốc.
Tờ "Lục Tỉnh Tân Văn" c̣n nhiều
lần kêu gọi đồng bào "Nên tự trách ḿnh, nên
bỏ những lối ăn nết ở không
hợp..."
Đến năm 1909 thủ lănh phong trào là Gilbert
Trần Chánh Chiếu bị bắt, phong trào suy sụp
dần, rồi đến năm 1912, Nguyễn Chánh Sắt
trở xuống Bạc Liêu làm ruộng. Nhưng 4 năm
sau, Nguyễn Chánh Sắt trở lên Sài G̣n làm chủ bút "Nông
Cổ Mín đàm". Năm 1920, ông trở về quê ở
Tân Châu, được dân chúng tín nhiệm, cử ông
chức Hương Quản làng Long Phú. Nhưng chỉ sau
một năm, Nguyễn Chánh Sắt lại trở lên Sài
G̣n rồi đắc cử Phụ thẩm Toà Án Sài G̣n,
được phong Huyện danh dự (huyện hàm), nên dân
chúng Tân Châu c̣n gọi là "Ông Huyện Sắt".
Thời gian ở Tân Châu, Nguyễn Chánh Sắt có
mướn một người ở đợ, tên là Ba
Quốc. Một hôm Ba Quốc không chịu làm việc,
cứ ngồi một nơi "tơ tưởng"
chuyện trên trời dưới đất,
được dân chúng hưởng ứng, gọi là "Ông
đạo Tưởng". Đạo Tưởng
gởi thơ cho Tham Biện Châu Đốc, yêu cầu cung
cấp súng đạn để ông ta dẫn đồng
đạo qua Pháp đánh Đức. Chuyện "Ông
đạo Tưởng", chúng tôi có kể sơ trong bài
"Bùa ngải, thư ếm", xin miễn kể
lại.
Cuộc đời ông Nguyễn Chánh Sắt hiếu
động, dời chỗ luôn, nhưng dù bất cứ
vị trí nào ông cũng tỏ ra là một người giàu
nghị lực, siêng năng hoạt động và là
một người biết giữ phẩm cách ,đạo
đức.
DỊCH GIẢ
TRUYỆN TÀU
Phong trào dịch truyện Tàu ở Nam Kỳ
bắt đầu từ năm 1901 cho đến năm
1932, có trên 30 dịch giả tên tuổi, nhiều bản
dịch có giá trị được dân chúng mê đến
nỗi muốn thuộc ḷng từng đoạn. Những
bộ truyện nổi danh suốt nửa thế kỷ
qua là "Đông Châu Liệt Quốc", "Tam Quốc
Chí", "Thủy Hử"...Trong khoảng hơn 30
dịch giả đă dịch trên 70 quyển truyện Tàu,
chúng tôi thấy tên các người dịch sau đây:
- Trần Phong Sắc
- Nguyễn Văn Thạnh
- Nguyễn Chánh Sắt
- Trần Thị Sĩ
- Nguyễn An Khương
- Đào Xuân Trinh
- Nguyễn An Cư
- Tô Chẩn
- Nguyễn Liên Phong
- Nguyễn Công Kiều
- Lê Sum
- Cosme Nguyễn Văn Tài
- Lê Duy Thiện
- Nguyễn Kim Đính
- Phạm Minh Kiên
- Nguyễn Bá Thời
- Trần Hữu Quang
- Trần Công Danh
- Nguyễn Hữu Sanh
- Phạm Thành Kỉnh
- Huỳnh Trí Phú
- Trần Quang Xuân
- Huỳnh Công Giác
- Phạm Văn Điền
- Hoàng Minh Tứ
- Trương Minh Chánh
- Nguyễn Văn Hiển
- Trần Xuân
- Phạm Thị Phượng (La Thông tảo Bắc)
- Nguyễn Kỳ Sắt ....
Trong số các dịch giả kể trên, nổi
tiếng và dịch nhiều nhứt là hai ông Trần Phong
Sắc và Nguyễn Chánh Sắt, mỗi người
dịch độ 20 quyển, có bộ lên tới 1000
trang...Truyện Tàu xuất hiện lần đầu tiên
năm 1904, đó là quyển "Tam Quốc Chí",
đăng trên "Nông Cổ Mín Đàm". Bộ
truyện đồ sộ nhứt là "Đông Châu
Liệt Quốc" khoảng 15 cuốn, có nhiều
dịch giả, trong đó có Nguyễn Chánh Sắt. Họ
dịch lai rai suốt 23 năm, bắt đầu từ
năm 1906 đến 1929. Những người cùng dịch
"Đông Châu Liệt Quốc" gồm: Nguyễn Chánh
Sắt, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều,
Trần Đ́nh Nghi, Nguyễn Kỳ Sắt. C̣n về nhà
in, quyển "Đông Châu Liệt Quốc" cũng có
đến 4 nhà in khác nhau:
- Năm 1906 in tại IMP
Saigonnais
- Quyển 3 do Hùynh Kim Anh dịch, in tại nhà in Phát Toán
- Quyển 7 do Huỳnh Kim Anh dịch, in tại nhà in Imp
Schneider
- Quyển 14 do Huỳnh Kim Anh dịch, in tại nhà in
"Xưa Nay" của Nguyễn Hào Vĩnh.
Bộ "Tái Sanh Duyên" do Nguyễn Chánh Sắt,
Nguyễn An Khương, Nguyễn Văn Đẩu
dịch tới quyển 11. Ngoài ra Nguyễn Chánh Sắt c̣n
dịch bộ "Chung Vô Diệm"...(1)
MỘT TRONG NHỮNG
NGƯỜI
VIẾT TIỂU THUYẾT SỚM NHẤT NAM Kỳ
Từ trước đến nay, nhiều
sách văn học nước nhà không dành cho Nguyễn Chánh
Sắt một địa vị xứng đáng v́ sự
đóng góp của ông đối với nền văn
học c̣n trong thời kỳ phôi thai. Cũng ở trong
trường hợp đó, chúng ta c̣n phải kể thêm
nhiều tác giả khác như Nguyễn Trọng Quản, Lê
Hoằng Mưu (Mộng Huê Lầu), Biến Ngủ Nhy
(Nguyễn Bính), Trương Duy Toản...Dưới đâu
là bảng liệt kê những tiểu thuyết, tuồng
hát bộ do Nguyễn Chánh Sắt soạn:
- Nghĩa Hiệp
Kỳ Duyên (Kim thời tiểu thuyết, in năm 1919)
- Gái Trả Thù Cha, in năm 1920
- Tài Mạng Tương Đố, in năm 1925
- T́nh Đời Ấm Lạnh (in trong "Thiên Sanh
Đường" đại dược pḥng)
- Ḷng Người Nham Hiểm, in năm 1916
- Man Hoang Kiếm Hiệp (nhà in Đức Lưu
Phương)
- Giang Hồ Nữ Hiệp (nhà in Đức Lưu
Phương)
- Trinh Hiệp Lưỡng Mỹ
- Việt Nam Lê Thái Tổ
- Các tuồng hát bộ: Đinh Lưu Tú, Sài G̣n 1919, nhà in
Imp. J. Viết.
Ngoài ra, Nguyễn Chánh Sắt c̣n là tác giả của vài
cuốn sách dạy chữ Hán cho trẻ em.
Trong các quyển tiểu thuyết kể trên, tác
phẩm đầu tay "Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên"
(Chăng Cà Mum) sáng tác năm 1918, in năm 1919, lấy bối
cảnh một mối t́nh xảy ra vùng biên giới
Việt Miên, in trong cuốn sách quảng cáo thuốc "Nhị
Thiên Đường" ở Chợ Lớn. Truyện
"Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên" được
độc giả đón nhận nồng nhiệt. Nhơn
vật chính, cô gái tên Chăng Cà Mum, gốc người
Việt bị bắt đem bán cho Mẹ Sốc trên
đất Miên. Quyển truyện nầy nổi tiếng
đến mức nhiều độc giả viết
thơ cho ông , chỉ cần đề tên "Mr. Chăng
Cà Mum" và địa chỉ th́ thơ cũng tới
nơi, không sai lạc. Tên "Chăng Cà Mum" trở
thành cái tên phổ thông cho tất cả phụ nữ Khmer.
V́ giá trị quyển tiểu thuyết ra đời cách nay
hơn 70 năm, rất ăn khách, nên chúng tôi xin phép tóm
lược cốt chuyện để độc giả
có một cái nh́n về quan niệm viết tiểu
thuyết hồi xưa, đồng thời thấy
được văn phong, luân lư của tác giả. Các
tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt lấy
đề tài xă hội đương thời, thực
tế, viết theo lề lối tiểu thuyết Tây
Phương, dùng lối văn xuôi b́nh thường,
đánh dấu bước chuyển ḿnh của loại
văn học mới miền Nam. Sau đây, xin tóm
lược cốt chuyện "Nghĩa Hiệp Kỳ
Duyên":
"Lâm Trí Viễn, quê tại xép Cơ-Tầm
Bon (tác giả cho biết ở dưới tỉnh thành Châu
Đốc chừng sáu, bảy ngàn thước), cha mẹ
gởi trọ học tại nhà người bà con tại
tỉnh thành. Gặp Đào Phi Đáng, Lâm Trí Viễn đem
ḷng yêu. Đào Phi Đáng là con gái của một
người Triều Châu, buôn bán tại Nam Vang. Cha mẹ
mất, Đào Phi Đáng được d́ ruột ở
Chui-Chèn-Oa đem về nuôi nấng. Khi trổ mă con gái,
Đào Phi Đáng ham vui, theo chúng bạn, mang tiền bạc
trốn khỏi nhà d́, xuống Châu Đốc, và
được một người đàn bà bán cá tôm ngoài
chợ cho trú ngụ trong nhà
Một hôm, Lâm Trí Viễn đọc báo
thấy có tin một người giàu có ở Tân Châu tên là
Trịnh Thế Xương, vợ mất sớm, chỉ
có một đứa con gái tên Trịnh Phương Lang, h́nh
dung yểu điệu, phía bên trái có một cái bớt
bằng ngón tay cái mà tṛn. Lúc Trịnh Phương Lang
mới lên 6 tuổi, chợ Tân Châu bị hoả hoạn,
nên cô bị thất lạc . Từ đó đến nay
đă 12 năm biệt tích vắng tăm. Trịnh Thế
Xương đăng báo rao khắp lục tỉnh
nếu ai biết tung tích Trịnh Phương Lang, t́m
đem về cho ông ấy, sẽ được
đền bù 2000 đồng bạc (lúa lúc đó giá 2
cắc một giạ, một đồng bạc mua
được 5 giạ lúa)
Lâm Trí Viễn bày cách cho Đào Phi Đáng
giả làm Trịnh Phương Lang, về lại ăn
cắp tiền của cha mẹ cùng Phi Đáng lên Sài G̣n,
nhờ một người làm nghề thay răng tên Cao
Quốc Thủ, dùng xảo thuật tạo dịch cái
bớt son giả cho Phi Đáng.
Phi Đáng về, đi xuồng, giả
bị ch́m ở phía sau thành phố Châu Đốc, rồi
"t́nh cờ" Lâm Trí Viễn đi ngang qua đó ra tay
nghĩa hiệp, cứu nàng. Rồi Lâm Trí Viễn viết
thơ báo cho Trịnh Thế Xương biết rằng
ḿnh vừa cứu được một cô gái có
đặc điểm giống như cô gái của ông
đă rao mất lạc, đăng trên nhựt báo. Lâm Trí
Viễn đưa cô Đáng lên nhà gặp Trịnh Thế
Xương, và cô tự xưng tên là Lang. Ông Trịnh
Thế Xương không ngờ ǵ cả, nhận đó là
con ḿnh. D́ Tư bán cá có công đùm bọc cho Phi Đáng,
được đền ơn 100 đồng bạc.
Phần Trí Viễn được mời đến nhà
hậu tạ 2000 đồng và hai cây lụa Tân Châu.
Khi đó, có một người tên Trần
Trọng Nghĩa, quê ở Mỹ Tho làm thông ngôn Dây Thép
(Bưu Điện) đổi về nhà giấy Tri Tôn (Xà
Tón). Nghĩa mới 20 tuổi, cha mẹ mất sớm,
chưa vợ con. Nho học, Tây học đều thông,
nghề vơ, đánh quyền cũng giỏi. Mỗi tuần
vào chúa nhựt, Trần Trọng Nghĩa giao nhà cho
đứa ở tên thằng Mốc coi giữ, mang súng,
cưỡi ngựa lên núi một ḿnh săn bắn và ngao
du, xem phong cảnh.
Một hôm, mải theo đuổi thú săn,
đến gần núi Cô Tô, thấy bên mé rừng có
người con gái Cao Man cỡi trâu chạy như bạy,
phía sau có hai con beo rất to đuổi theo. Trọng
Nghĩa bắn chết 2 con beo, kêu cô gái lại hỏi
thăm và ngạc nhiên khi cô trả lời bằng tiếng
Việt rất trôi chảy. Nàng cho biết ba nàng bắt
đi chăn trâu đă tám, chín năm nay chưa bị beo
rượt lần nào. Lân nầy may nhờ chàng cứu
sống. Trọng Nghĩa nh́n nàng, đoán thầm là
người Việt hoặc có ai đó bắt bán lên Cao Man,
hay cũng có duyên cớ chi đây. Vừa cất lời
hỏi, nàng chưa kịp trả lời, bỗng thấy
một người Cao Man từ trong mé rừng hăm
hở chạy ra, vẻ mặt giận dữ, xốc
lại xô nàng và chỉ tới, h́nh như biểu nàng
phải về. Nàng mặt mày thất sắc, riu ríu
đuổi trâu về. Trọng Nghĩa về nhà trằn
trọc cả đêm, rồi từ đó, cứ mỗi
chúa nhựt giả đi săn bắn vào chỗ cũ
để mong gặp lại nàng.
Đến đây tác giả cho biết nàng tên
Chăng Cà Mum, đầy tớ của một người
Cao Man tên là Thạch Ung, làm Mẹ Sốc, cai quản vùng
ấy, tính t́nh hung bạo, sâu độc, thường đày
đoạ Chăng Cà Mum, đánh đập làm nàng khổ
sở nhiều bề. Thạch Ung lại có đứa con
trai tên Thạch Quưt, h́nh dung cổ quái, muốn lấy
Chăng Cà Mum làm vợ, nên mỗi khi cha mẹ la rầy
Chăng Cà Mum th́ hắn thường kiếm lời che
chở, nhờ vậy cũng đỡ cho Chăng Cà Mum
khỏi chịu phần roi vọt.
Một bữa, Trọng Nghĩa gặp
lại Chăng Cà Mum trong rừng. Hai người chuyện
tṛ thân mật. Khi được hỏi về lai lịch,
nàng cho biết ḿnh vốn là người Việt Nam tên Lang,
hồi lên 6 tuổi bị người ta bắt cóc
đưa xuống ghe chở đi rồi đem tới
sóc nầy mà bán cho lăo Mẹ Sốc. Trọng Nghĩa
hứa có dịp sẽ đưa nàng về miệt ngoài,
rồi thăm ḍ tin tức xem cha nàng là ai, sẽ giao nàng cho
ông . Từ đó, ngày chúa nhựt nào hai người cũng
đến chỗ hẹn ḥ mà tṛ chuyện với nhau..
Trọng Nghĩa dạy nàng học chữ quốc ngữ.
Sau thấy nàng có khiếu thông minh, liền dạy qua
chữ Pháp. Ngày qua tháng lại, thấm thoát đă 2 năm
trời, nàng học chữ Pháp cũng vừa thông chút
đỉnh.
Lúc ấy Trịnh Thế Xương phó thác
nhà cửa cho người cháu kêu bằng cậu là Triệu
Bất Thanh để dắt con gái là Trịnh Phương
Lang giả, tức Đào Phi Đáng đi du lịch Hà Tiên.
T́nh cờ ghé lại Châu Đốc, gặp ông Trần
Trọng Nghĩa làm quen với chàng, được chàng
hướng dẫn đi thăm cảnh núi Cô Tô. Trong lúc
mải mê săn bắn, Trịnh Thế Xương
đứng lại ngắm một bàu sen. Bỗng thấy
một nàng con gái từ dưới bàu sen, tay cầm 3
đoá hoa sen, xâm xâm bước tới trước xe, dâng
cho Trịnh Thế Xương. Trịnh Thế
Xương thấy nàng tuy quần áo rách rưới,
nhưng h́nh dung yểu điệu, lại thêm lời nói
dịu dàng nên chạnh ḷng thương xót, lấy 5 đồng
bạc trao cho nàng để thưởng công. Nàng từ
chối, không lănh, tạ ơn rồi lùa trâu đi. Đào
Phi Đáng thấy vậy, trong ḷng ganh ghét , song chẳng nói
ra.
Sáng hôm sau, Trịnh Thế Xương và
Đào Phi Đáng từ giă Trọng Nghĩa rồi đi
Tịnh Biên. Trong lúc ấy tại nhà Thạch Ung, Thạch
Quưt xin cha mẹ ép Chăng Cà Mum làm vợ hắn. Chăng
Cà Mum giả vờ nhận lời, rồi thừa lúc
nửa đêm, lén bắt một con ḅ nhảy phóc lên
lưng, chạy như bay ra Xà Tón. Trọng Nghĩa lầy
quần áo của ḿnh cho nàng cải trang, rồi tự
cầm cương ngựa đánh xe đưa nàng qua
Tịnh Biên t́m ông Trịnh Thế Xương. Sau khi nghe
Trọng Nghĩa kể lai lịch Chăng Cà Mum, ông
Trịnh Thế Xương sẵn sàng nhận nàng làm
dưỡng nữ, đặt tên là Nhị Quế. Đào
Phi Đáng kiếm lời ngăn cản, nhưng vô
hiệu quả. Nhị Quế được cấp cho
một đứa ở tên Thị Phụng. Từ đó
ngày ngày Nhị Quế học ươm tơ dệt
lụa, nấu ăn, làm bánh mứt, thêu thùa may vá, chưa
đầy 3 tháng mà nghề nào cũng khéo, nên
được mọi người đem ḷng thương
mến. Thừa dịp Trịnh Thế Xương bỏ
quên ch́a khoá, Triệu Bất Thanh lén mở tủ lấy
1000 đồng. Nhị Quế gặp Bất Thanh trong pḥng
cha nuôi và Thanh năn nỉ đừng tiết lộ, v́
cậu y có lịnh cấm y vào pḥng. V́ Nhị Quế
giữa lời hứa nên khi ông Trịnh Thế
Xương hay mất tiền, hỏi cả hai
người con, Phi Đáng kiếm lời vu khống cho
Nhị Quế. Nhờ Thị Phụng cho biết Triệu
Bất Thanh quyết hại ḿnh, nên tính ở lâu không
tiện, chờ đêm khuya trốn đi, để
lại tất cả áo quần của cha nuôi sắm cho,
chỉ mặc bộ đồ giả dạng con trai
của Trọng Nghĩa lúc trước. Thị Phụng
đưa Nhị Quế đến nhà bà Năm Thọ là mẹ
nàng để nương tựa. Sau khi đọc thư
Nhị Quế để lại, Trịnh Thế
Xương khóc ṛng, liền giục tôi tớ đi
kiếm khắp nơi mà không được tin tức chi
hết.
Ở nhà bà Năm Thọ, Nhị Quế
nhờ em Thị Phụng là thằng Bưởi đem
thơ báo tin cho Trọng Nghĩa ở Tri Tôn. Nửa
đường hắn bị Thạch Quưt đón bắt,
đoạt bức thơ của Chăng Cà Mum, xem xong
trả lại, chỉ hỏi tên thằng Bưởi
rồi thả nó đi. T́m đến nhà thằng Bưởi,
Thạch Quưt cho một người Việt Nam ở
dưới ghe của hắn, nói dối là Trọng
Nghĩa sai đến rước Chăng Cà Mum. Khi Chăng
Cà Mum xuống ghe, th́nh ĺnh Thạch Quưt ở dưới
khoang chun lên, bắt Chăng Cà Mum đè xuống, nhét
khăn vô họng, trói lại, bỏ xuống khoang chở
về Xà Tón. Bỗng Trọng Nghĩa xuất hiện,
nhảy phóc xuống ghe, đánh nhau với Thạch Quưt,
hạ hắn, rồi mở trói cho Chăng Cà Mum.. Trọng
Nghĩa tính giao Thạch Quưt cho làng trị tội, th́
bỗng gặp ghe của Trịnh Thế Xương
tới, trên đường đi du lịch cho giải khuây.
Hai cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Sau khi
nghe Trọng Nghĩa kể đầu đuôi, Trịnh
mắng Thạch Quưt sao dám bắt con gái ḿnh. Thạch Quyét
chỉ Chăng Cà Mum nói rằng cô nầy là con nuôi của
cha hắn, hồi trước có người ở Tân Châu
chở qua Xà Tón mà bán cho cha hắn hồi cô ta mới 6
tuổi, nghe nói tên cô ấy là Lang. Trịnh Thế
Xương nghe tên Lang th́ sửng sốt, sẵn cái áo
của Chăng Cà Mum vùng vẫy khi nảy mà rách một
đường, Trịnh Thế Xương liền
vạch ra coi, th́ thấy cái bớt son nơi vai trái. Khi
Trịnh Thế Xương tỏ ra thắc mắc v́ cô
gái ở nhà cũng tự xưng là Trịnh Phương
Lang có cái bớt son, th́ Thị Phụng cho biết cái
bớt son của cô Hai ở nhà là cái bớt giả, cách nay
mấy bữa, nó đă bay mất. Trịnh Thế
Xương mở trói, tha cho Thạch Quưt, đưa con
trở về Tân Châu. Đào Phi Đáng biết lộ
chuyện, nhơn đêm khuya, mở rương lấy
hết quần áo, ṿng vàng, chuỗi hột, túm lại
một gói rồi lỏn ra ngả sau trốn mất.
Khi Trọng Nghĩa qua Tân Châu, Trịnh
Thế Xương kể cho chàng biết tự sự,
rồi quyết định gả Phương Lang cho chàng.
Triệu Bất Thanh bị ông Xương cậy làm tờ
từ, rồi đuổi ra khỏi nhà, cuốn gói lên Nam
Vang, đến sau trôi nổi lên Biển Hồ, không
biết đi đâu biệt tích. Đào Phi Đáng qua Châu
Đốc, quyết t́m Lâm Trí Viễn, lúc nầy đă lên
Sài G̣n học. Phi Đáng lên tuốt Sài G̣n hỏi thăm Lâm
Trí Viễn mới biết cậu ta bị đau trái
trời mà chết cách 3 ngày trước. Sau đó Đào Phi
Đáng trở thành gái điếm, sao vào chốn lầu
xanh, bị lây chứng ác mà bỏ mạng. Sau khi thành hôn,
Trọng Nghĩa và Phương Lang sắp đặt
việc hợp tác cho thằng Mốc và Thị Phụng.
Về sau con trai của Trọng Nghĩa học giỏi,
được du học bên Tây".
Đây là quyển tiểu thuyết lấy bối
cảnh lịch sử, xă hội thực tế. Việc
cháy chợ Tân Châu xảy ra năm 1910 khiến nhiều gia
đ́nh ly tán, việc Lâm Trí Viễn theo trọ học
ở tỉnh thành Châu Đốc cũng là hoàn cảnh
của tác giả, rồi khung cảnh địa lư, vùng
Miên Việt. Tóm lại, những sự kiện thật,
mới lạ, lần đầu tiên được
đưa lên tiểu thuyết, v́ lẽ đó người
ta coi đây là quyển tiểu thuyết đánh dấu
bước chuyển biến quan trọng từ cũ sang
mới.
Chú thích:
(1) Cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh, nhà văn và cũng là nhà
cách mạng, bạn của người cháu ngoại
của Nguyễn Chánh Sắt, tên Trân Xuân Nam, bút hiệu
Trọng Tâm, có lần kể cho cụ nghe về Nguyễn
Chánh Sắt: Một lân về Tân Châu thăm ông ngoại,
Trần Xuân Nam kể chuyện họp bạn văn
chương ở Sài G̣n cho cụ nghe, cụ vuốt râu
cười:
- Mấy cháu tha thiết đến chữ Quốc
Ngữ như thế là tốt. Tương lai của dân
ḿnh tùy thuộc phần lớn ở tiếng nói và chữ
viết của nước ḿnh. Không lẽ học tiếng
nước ngoài bỏ tiếng nước ḿnh để
làm đầy tớ cho Tàu rồi lại làm đầy
tớ cho Tây măi sao ?
Một hôm cụ hỏi Trần Xuân Nam có đọc
truyện Tây Du của cụ dịch không? Đoạn
văn nào anh ưa nhứt? Nam hóm hỉnh trả lời:
- Con ưa chỗ ngoại viết là "Tề Thiên
Đại Thánh nhảy lên mây và nghĩ thầm
rằng...." . Ngoại c̣n giỏi hơn ông Tề
nữa, v́ ổng nhảy cao tận mây xanh mà ngoại
cũng biết ổng nghĩ thầm thế nào..!" (Tài
liệu do nhà văn An Khê gởi cho tác giả)
(Rút trong khởi thảo "Nhân Vật Lịch
Sử, Chính Trị, Văn Hoá miền Nam" Tự
Điển)